Munich (phim) là gì? Chi tiết về Munich (phim) mới nhất 2022

Munich (phim) là gì? Chi tiết về Munich (phim) mới nhất 2022

Munich
Poster phim Munich 2005.jpg

Poster chiếu rạp

Đạo diễn Steven Spielberg
Chế tạo
  • Steven Spielberg
  • Kathleen Kennedy
  • Barry Mendel
  • Colin Wilson
Ngữ cảnh
Dựa vào Vengeance
của George Jonas
Diễn viên
  • Eric Bana
  • Daniel Craig
  • Ciarán Hinds
  • Mathieu Kassovitz
  • Hanns Zischler
  • Geoffrey Rush
  • Ayelet Zurer
Âm nhạc John Williams
Quay phim Janusz Kamiński
Dựng phim Michael Kahn
Đơn vị phân phối
  • Amblin Entertainment
  • The Kennedy/Marshall Company
  • Alliance Atlantis
Phát hành
  • Universal Pictures
    (Bắc Mỹ)
  • DreamWorks Pictures
    (Quốc tế)
Trình chiếu
  • 23 tháng 12, 2005 (2005-12-23) (Hoa Kỳ)
Độ dài 163 phút
Quốc gia
Ngôn ngữ
  • Tiếng Anh
  • Tiếng Pháp
Kinh phí $70 triệu $[1]
Doanh thu $130.4 triệu $[1]

Munich là một bộ phim truyền hình điện ảnh giật gân chính kịch lịch sử vẻ vang do Steven Spielberg đạo diễn kiêm chế tạo, với phần ngữ cảnh đc chắp bút bởi Tony Kushner và Eric Roth. Tập phim dựa vào bộ sách Vengeance, bản kể lại của campaign sự căm phẫn của Chúa trời – 1 cuộc trả đũa bí hiểm do chính phủ nước nhà Israeli tiến hành nhắm vào Tổ chức triển khai Giải phóng Palestine (PLO) bên dưới sự kiện thảm sát München tại Thế vận hội Mùa nắng 1972.

Munich nhận đc năm đề cử tại Giải Oscar đợt thứ 78: Phim hay nhất, Đạo diễn loại giỏi nhất, Ngữ cảnh chuyển thể loại giỏi nhất, Biên tập âm lượng loại giỏi nhất cùng Nhạc phim hay nhất. Sản phẩm thực tế đã thu về 130 triệu $ trên toàn thế gới nhưng chỉ có 47 triệu $ tại Hoa Kỳ, thông qua đó biến thành 1 trong các các bộ phim truyền hình có lợi nhuận nội địa thấp nhất của Spielberg.[2] Năm 2017, phim đc tạp chí The New York Times đem vào list “Những bộ phim truyền hình loại giỏi nhất thế kỷ 21 cho đến thời điểm bây giờ”, đứng tại đoạn thứ 16.[3]

Content[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Thế vận hội Mùa nắng 1972 ở Munich, nhóm khủng bố Palestine Tháng Chín Đen đã giết hại 11 cá thể của đội Olympic Israel. Avner Kaufman, một điệp viên Mossad mang hai dòng máu Đức-Do Thái, đc chuyển nhượng chỉ đạo một phi vụ ám sát 11 người Palestine đc cho là có ảnh hưởng đến vụ thảm sát. Theo chỉ huy của những người quản lý điều hành Ephraim, để chính phủ nước nhà Israel rất có thể không đồng ý một phương pháp đường đường chính chính, Avner rời khỏi Mossad và hoạt động và sinh hoạt không tồn tại mối quan hệ chính thức với Israel. Nhóm của anh kể cả bốn tình nguyện viên người Do Thái từ khắp địa điểm trên thế gới: tài xế người Nam Phi Steve, chuyên tài sản xuất đồ chơi và chất nổ người Bỉ Robert, cựu quân nhân Israel kiêm “người dọn dẹp và sắp xếp” Carl, cùng người làm giả dữ liệu Đan Mạch Hans. Họ đc vừa lòng thông báo bởi một người Pháp tên là Louis.

Tại Rome, nhóm cần sử dụng súng bắn chết Wael Zwaiter, khi đó đang sinh sống như 1 nhà thơ. Ở Paris, họ cho nổ một quả bom tại khu nhà ở của Mahmoud Hamshari; tại Síp, họ đánh bom phòng tiếp khách sạn của Hussein Abd Al Chir. Cùng theo với biệt kích IDF, họ lùng sục ba binh sĩ Palestine – Muhammad Youssef al-Najjar, Kamal Adwan cùng Kamal Nasser – rồi đến Beirut, thâm nhập khẩu khu căn hộ đc cảnh giới của những người Palestine và hủy diệt cả ba tên.

Khi ấy, những trinh sát bàn luận nóng bức về tính đạo đức của trọng trách, cùng theo đó bày tỏ mối thấp thỏm về sự nợ kinh nghiệm tay nghề của chính bản thân mình, tương tự về việc tình cờ giết những người dân ngoài cuộc không có tội. Avner chứa một chuyến thăm ngắn ngủi đến vk mình, người vửa sinh người con đầu lòng của mình. Tại Athens, khi săn đón Zaiad Muchasi, nhóm phát đưa ra rằng Louis đã thu xếp để họ ở chung một khu nhà ở tin cậy với những cá thể PLO đối địch, cùng những đặc vụ Mossad giả làm cá thể của những nhóm binh sĩ quốc tế như ETA, IRA, ANC, và Phái Hồng quân để hạn chế chuốc lấy trắc trở. Avner đã có rất nhiều 1 cuộc truyện trò chân thành với 1 cá thể của PLO, Ali, về quê nhà của mình và người xứng danh cai quản vùng đất ấy; Ali tiếp nối bị Carl bắn gục khi cả đội trốn ra khỏi cuộc tiến công của Muchasi.

Cả nhóm đi tới Luân Đôn để săn đón Ali Hassan Salameh, “phong cách xây dựng sư” của Vụ thảm sát Munich, nhưng cuộc ám sát bị gián đoạn do 1 số dân cư Mỹ say xỉn làm cho. Có cách nhìn nhận định rằng đây là các điệp viên của CIA, mà theo Louis, cơ quan này đảm bảo và hỗ trợ tài chính cho Salameh, và đổi lại, hắn ta sẽ không còn tiến công những nhà ngoại giao Mỹ. Cũng từ đó trở đi, chính kẻ đi săn lại biến thành kẻ bị săn. Carl bị giết bởi một trinh sát chủ quyền người Hà Lan. Để phục thù cho những người bằng hữu bất hạnh, nhóm lần theo tung tích và hành quyết cô ta ở một biệt thự nổi ở Hoorn, Hà Lan. Hans đc tìm cảm thấy trên băng ghế khu vui chơi giải trí công viên với hiện trạng bị đâm chết, còn Robert thì thiệt mạng bởi một vụ nổ trong chính xưởng bom của anh. Avner và Steve sau cùng cũng cam đoan đc chỗ đứng của Salameh ở Tây Ban Nha, nhưng một đợt nữa thủ đoạn ám sát của mình lại bất thành, lần này là bởi những vệ sĩ vũ trang của Salameh. Nói theo một cách khác rằng Louis đã bán thông báo của đội cho PLO.

Avner khổ sở bay đến Israel, và chẳng lấy gì làm tự hào khi đc hai người lính trẻ ca ngợi là anh hùng. Sau đó, Avner đến khu nhà ở mới ở Brooklyn, địa điểm anh bị căng thẳng mệt mỏi sau chấn thương và bận rộn chứng hoang tưởng. Mối lúng túng liên tiếp tăng thêm khi anh trò chuyện với cha của Louis qua điện thoại cảm ứng thông minh và ông ta tiết lộ rằng ông đã biết đc tên thật của Avner, rồi hứa rằng sẽ không tồn tại đều gì xẩy ra với hạnh phúc gia đình anh. Avner bị tống thoát ra khỏi lãnh sự quán Israel sau khoản thời gian xông vào và đề xuất kiến nghị Mossad để vk con mình đc yên ổn. Ephraim đến đề xuất Avner trở về Israel và Mossad, nhưng Avner không đồng ý. Avner tiếp nối đề xuất kiến nghị Ephraim đến ăn bữa tối với hạnh phúc gia đình để gia công hòa cùng nhau, nhưng Ephraim lại không đồng ý – một biện pháp hành động đã cho thấy rằng xích míc giữa hai người sẽ không còn lúc nào đc giải hạn.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Munich
Nhạc nền phim của John Williams
Phát hành December 27, 2005
Thu âm 2005
Phòng thu Sony Pictures Studios
Thể loại Soundtrack
Thời lượng 62:37
Hãng đĩa Decca
Sản xuất John Williams
Thứ tự album của John Williams
Memoirs of a Geisha
(2005)
Munich
(2005)
Indiana Jones and the Kingdom of the Crystal Skull
(2008)

Bản nhạc nền của phim do John Williams sáng tác và chỉ đạo dàn nhạc.[4]

Album nhạc phim nhận đc đề cử tại khuôn khổ Giải Oscar cho nhạc phim hay nhất nhưng đã để thua Brokeback Mountain. Nhạc phẩm cũng rất được đề cử Giải Grammy cho nhạc nền hay nhất cho phim ảnh nhưng lại để tuột vào tay Hồi ức của 1 geisha (cũng do Willia soạn)

AllMusic đã cho phần nhạc phim 3.5/5 sao.[5] Bản nhạc nhận đc số điểm 4/5 trên website Filmtracks.com.[6] Nó cũng rất được SoundtrackNet xếp thứ hạng 4,5/5 sao.[7] Trên ScoreNotes, bản nhạc đc xếp loại “A-“.[8]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
  1. ^ aă“Munich (2005)”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 27 tháng tám năm 2015.

  2. ^ “Steven Spielberg”. Box Office Mojo.
  3. ^ Dargis, Manohla; Scott, A.O. “The 25 Best Films of the 21st Century…So Far”. The New York Times. Truy cập ngày 8 tháng bảy năm 2017.
  4. ^ “John Williams – Munich Original Motion Picture Soundtrack”. discogs.com. Truy cập ngày 9 tháng tư năm 2014.
  5. ^ Allmusic đánh giá
  6. ^ “Filmtracks: Munich (John Williams)”. www.filmtracks.com.
  7. ^ “Munich Soundtrack (2005)”. www.soundtrack.net.
  8. ^ “Multiple resources in the form of review, interviews, guides and more”. ibooked.no. Bản gốc tàng trữ ngày 6 tháng 11 thời điểm năm 2012.
Tìm hiểu thêm
  • Girling, Richard (15 tháng một năm 2006). “A Thirst for Vengeance: The Real Story behind Munich”. The Sunday Times. London. Bản gốc tàng trữ 2 tháng 10 năm trước đó. Truy cập ngày 26 tháng 12 thời điểm năm 2012.(cần ĐK mua)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trang web chính thức Sửa đổi này tại Wikidata
  • Munich trên Internet Movie Database
  • Munich tại Box Office Mojo
  • Munich tại Metacritic
  • Munich tại Rotten Tomatoes

Bạn Đang Xem: Munich (phim) là gì? Chi tiết về Munich (phim) mới nhất 2022

Chuyên Mục: la gi

Nguồn: zoneh.org